Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng – niềm tin, khí tiết và nghĩa lớn non sông
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ
Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2026) là dịp nhìn lại cuộc gặp gỡ lịch sử
giữa hai nhân cách lớn của dân tộc. Từ sự gặp gỡ đó, bài học về niềm tin chính
trị và nghệ thuật trọng dụng hiền tài tiếp tục gợi mở cho công cuộc xây dựng,
phát triển thành phố Đà Nẵng hôm nay.
Hai nhân cách lớn vì độc
lập dân tộc
Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh
ngày 01/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ
Thăng Bình (nay thuộc xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng). Năm 1900, cụ đỗ Giải
nguyên; năm 1904 đỗ Tiến sĩ. Con đường quan lộ rộng mở nhưng cụ không màng chốn
quan trường, mà cùng các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp dấn thân vào
phong trào Duy Tân, giương cao ngọn cờ “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân
sinh”.
Huỳnh
Thúc Kháng (1876-1947). Ảnh tư liệu.
Năm 1908, cụ bị thực dân
Pháp bắt, sau đó bị đày ra Côn Đảo. Mười ba năm lưu đày, từ 1908 đến 1921,
không làm suy giảm khí tiết của người chí sĩ đất Quảng. Trở về quê hương, cụ
tiếp tục hoạt động vì dân, vì nước; năm 1926 được bầu vào Viện Dân biểu Trung
Kỳ và giữ chức Viện trưởng. Khi nhận thấy những giới hạn của cơ quan này do
không thể tiếp tục đấu tranh hiệu quả trong cơ chế do thực dân kiểm soát, Cụ từ
chức năm 1928.
Năm 1927, Cụ sáng lập báo Tiếng
Dân tại Huế, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Số đầu tiên ra ngày 10/8/1927; tờ
báo hoạt động đến năm 1943. Trong điều kiện kiểm duyệt ngặt nghèo, Tiếng Dân
trở thành một diễn đàn có ảnh hưởng ở Trung Kỳ, lên tiếng về dân quyền, dân
sinh, giáo dục, đời sống đồng bào và tinh thần tự cường dân tộc. Với cụ Huỳnh,
làm báo trước hết là một cách phụng sự quốc dân.
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
thuộc thế hệ tiếp nối, lựa chọn hành trình cứu nước theo con đường cách mạng vô
sản. Dù khác biệt về thế hệ, phương pháp và hoàn cảnh hoạt động, hai nhân cách
lớn đã gặp nhau ở mẫu số chung: lòng yêu nước nồng nàn, thương dân tha thiết và
kiên định đặt lợi ích tối cao của Tổ quốc lên trên hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhìn thấy ở cụ Huỳnh một bậc đại nghĩa, uy tín vẹn toàn; còn cụ Huỳnh, bằng
nhãn quan mẫn tiệp, đã nhận ra ở Chính phủ cách mạng ngọn cờ quy tụ sức mạnh
toàn dân tộc. Niềm tin chính trị được hình thành vững chắc từ chính sự gặp gỡ
giữa hai nhân cách lớn đó.
Nghệ thuật trọng dụng
hiền tài: Trao quyền thực chất, gắn kết trách nhiệm
Sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945, chính quyền non trẻ đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong
bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần gửi điện mời cụ Huỳnh ra Hà Nội
cùng gánh vác việc nước. Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I (ngày 02/3/1946),
khi giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, Người trân trọng
khẳng định Bộ trưởng Bộ Nội vụ là: “Một người đạo đức danh vọng mà toàn thể
quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng”.
Lời giới thiệu cô đọng thể
hiện sâu sắc quan điểm dùng người của Hồ Chí Minh: đánh giá cán bộ bằng phẩm
chất, uy tín thực tế và năng lực phụng sự, hoàn toàn không bị đóng khung bởi
xuất thân hay định kiến chính trị. Đặc biệt, ngày 31/5/1946, trước khi sang
Pháp đàm phán, Người tin tưởng giao cụ Huỳnh làm Quyền Chủ tịch nước điều hành
bộ máy Chính phủ kèm lời dặn dò: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Cái “bất biến” là nền độc
lập dân tộc và sự sống còn của chính quyền cách mạng; cái “vạn biến” là sách
lược linh hoạt, mềm dẻo trước tình thế biến đổi khôn lường. Suốt hơn 4 tháng
gánh vác việc nước, cụ Huỳnh đã giữ vững kỷ cương phép nước, xử lý linh hoạt
đối nội, đối ngoại, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù.
Chủ tịch Hồ Chí Minh
và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh tư liệu.
Đánh giá cao vai trò của
Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong
lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự săn
sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực
của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng
tiến bộ”.
Qua đây, cho thấy nghệ thuật
dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh: nhìn nhận đúng người – thuyết phục bằng
chân thành – giao việc tương xứng – trao quyền thực chất và trân trọng ghi nhận
cống hiến. Niềm tin ở đây không phải sự ưu ái chủ quan, mà là mối quan hệ
trách nhiệm hai chiều: lãnh đạo dám tin tưởng trao quyền, còn người được tin
cậy chứng minh bằng tinh thần tận tụy và hiệu quả công việc.
Khơi dậy tinh thần cụ
Huỳnh trong xây dựng, phát triển Đà Nẵng hôm nay
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ
Huỳnh Thúc Kháng có ý nghĩa đặc biệt đối với thành phố Đà Nẵng. Không chỉ dừng
lại ở việc triển khai Dự án bảo tồn, phát huy giá trị Khu di tích Nhà lưu niệm
Cụ Huỳnh Thúc Kháng tại xã Thạnh Bình, điều cốt lõi hơn là làm sống dậy những
giá trị tư tưởng, nhân cách của một chí sĩ xứ Quảng trong nhịp sống hiện hay
Về công tác cán bộ và thu
hút nhân tài: Đà Nẵng đang hướng tới
mục tiêu xây dựng đô thị thông minh, sinh thái, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số. Bài học dùng người của Hồ Chí Minh gợi mở nhiều điều: muốn thu hút và giữ
chân người tài, chính sách không chỉ dừng lại ở đãi ngộ vật chất, mà phải kiến
tạo môi trường tôn trọng chuyên môn, giao đúng việc, trao đủ quyền hạn và cơ
chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Vận dụng phương châm “Dĩ
bất biến, ứng vạn biến”: Cái “bất
biến” của thành phố là kỷ cương, bản sắc văn hóa, phát triển bền vững và mục
tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho Nhân dân. Cái “vạn biến” chính là sự
năng động trong quản trị công, chủ động đón đầu các cơ chế, chính sách đặc thù,
linh hoạt chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế.
Kế thừa tinh thần báo
“Tiếng Dân”: Gần 16 năm hoạt động,
duy trì tôn chỉ“vì dân mà nói” của cụ Huỳnh là chuẩn mực cho người làm
báo và công tác truyền thông thành phố. Trong kỷ nguyên số, Cổng Thông tin điện
tử thành phố cùng các cơ quan báo chí địa phương phải luôn giữ vững tính chuẩn
xác, khách quan, vừa lan tỏa hiệu quả chủ trương, vừa phản ánh chân thực nhịp
sống dân sinh.
Nhìn lại sự gặp gỡ giữa Chủ
tịch Hồ Chí Minh và chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng thấy vẫn vẹn nguyên sức sống: biết
tìm điểm tương đồng để quy tụ nhân tâm, biến niềm tin thành trách nhiệm và lấy
sự liêm chính, tận tụy làm lẽ sống.
Tự hào là quê hương của cụ
Huỳnh, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Đà Nẵng quyết tâm “theo gương dũng
cảm, nối chí quật cường của Cụ” thành động lực, xây dựng thành phố ngày
càng văn minh, hiện đại, giàu bản sắc và phát triển bền vững.
Th.S Trần Ngọc Nhiều
Nguồn: Cổng TTĐT thành phố